DOANH NGHIỆP KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ - GCN: 14/DNKHCN

“Innovation Distinguishes Between a Leader And a Follower”

Steve Jobs

Hội thảo, quảng bá, truyền thông

Tháng Sáu

14

Tạo động lực cho phát triển KHCN ngành Xây dựng

Tạo động lực cho phát triển KHCN ngành Xây dựng

Ths. GVC  Đỗ Đức Thắng

TGĐ Cty Đầu tư và Phát triển Công nghệ Đại Học Xây dựng

Chiến lược Phát triển Khoa học Công nghệ ngành Xây dựng Việt Nam do Bộ trưởng Bộ Xây dựng ký ban hành ngày 29/5/2013  như một hệ quả của Nghị quyết Trung ương Khóa VI về Khoa học Công nghệ, đã là một làn gió mát thổi vào bầu không khí ngột ngạt đang bao phủ ngành xây dựng Việt Nam từ 2011 đến nay.

Trong nhiều nội dung mới mẻ và cụ thể mà Chiến lược đề xuất, chúng ta thấy có một ý rất quan trọng nhưng được ẩn sau những nội dung khác nghe rất to tát mà lại kém quan trọng hơn…do vậy bài viết này sẽ tập trung khơi sâu vấn đề quan trọng đó. ( xem mục 1.3 Quan điểm phát triển Khoa học và công nghệ xây dựng )

Thử nhìn lại, những năm 1980 ngành nông nghiệp Việt Nam sản xuất lương thực không đủ nuôi dân Việt Nam, hàng năm phải nhập khẩu nhiều triệu tấn hạt bo bo, bột mỳ…thậm chí công nhân viên nhà nước phải ăn độn ngô, khoai tây…các cơ quan, trường học đều phải đi trồng sắn, nuôi bò nuôi lợn…Vậy mà chỉ vài năm sau, với chỉ thị 100 của Ban bí thư và cụ thể hóa bằng nghị quyết khoán 10, Việt Nam không những đã đủ ăn mà còn vươn mình trở thành nước xuất khẩu gạo nhất nhì thế giới…ở hiện tượng thành công rất ngoạn mục này chính việc “ Tạo động lực cho sản xuất nông nghiệp” là mẫu số chung của nhiều nhân tố, thành tố các mặt khác nhau làm nên thành tích cứu thoát nền kinh tế Việt Nam ở thời kỳ đó…Như vậy có thể nhận xét rằng “ tạo được động lực cho phát triển chính là chức năng cao nhất, đóng vai trò quan trọng nhất của mọi chính sách, chiến lược phát triển”

Hiện trạng:

Nhìn lại thực trạng công tác Khoa học Công nghệ của ngành xây dựng Việt Nam hiện nay, có thể thấy được chia làm 2 thời kỳ rõ rệt Trước và Sau Mở Cửa 1990-1993. Từ 1955 đến 1990 chúng ta chủ yếu tiến hành xây dựng các công trình với kiến thức học tập từ Liên Xô và các nước Đông Âu. Ở giai đoạn này chỉ sao chép và làm chủ được các công nghệ đó đã là sự cố gắng cao của toàn ngành xây dựng Việt Nam. Khó chỉ ra các công trình nổi bật của thời kỳ này, ngoài các khu tập thể Kim Liên, Trung Tự, Thanh Xuân Bắc ở Hà Nội, Khu Quang Trung ở Thành Phố Vinh…đã phần nào giải quyết vấn đề nhà ở cho CNV ở mức rất hạn chế cả về diện tích và chất lượng công trình. Về công nghiệp có thể kể thêm Thủy điện Hòa Bình, Nhà máy Kính Đáp Cầu, Nhà máy Xi măng Bỉm Sơn…dù rằng để thực hiện các dự án này bên cạnh hàng ngàn kỹ sư công nhân Việt Nam vẫn không thiếu được sự đóng góp công sức của hàng trăm chuyên gia Liên Xô tại mỗi dự án.

Sau 1990, khối XHCN Đông Âu tan rã, Liên Xô cũng không còn nữa, nhưng chính trong bối cảnh này chính sách mở cửa làm bạn với tất cả các nước đã mang làn gió mới đến với ngành xây dựng Việt Nam. Đầu tiên, các nhà đầu tư nước ngoài đến Việt Nam làm ăn bên cạnh túi tiền còn phải mang theo các nhà thầu, nhà tư vấn của mình để tạo dựng các khách sạn, các khu công nghiệp hay hỗ trợ Chính Phủ Việt Nam xây dựng hạ tầng kỹ thuật như cầu đường, sân bay, bến cảng…Các công nghệ cọc khoan nhồi đường kính lớn, bê tông trộn sẵn, nhà thép tiền chế …đã xuất hiện lần đầu ở Việt Nam và nhanh chóng trở thành một thành tố quan trọng không thể thiếu của nền xây dựng Việt Nam.

Với nhịp điệu xây dựng tăng mạnh mẽ suốt 20 năm qua, Việt Nam đã dần trở thành một quốc gia có nền kỹ thuật xây dựng phát triển so với các nước khác trong khu vực. Cuối 2012 tác giả bài viết này gặp người bà con ở Matxkơva, anh ta khoe vừa mới được nhận căn hộ với giá 10.000 USD/m2 sau khi đã nộp đủ tiền từ năm 2001! Như vậy ở Nga, để xây một chung cư cao 30 tầng, họ làm mất 6-7 năm! Có vẻ như  lúc này chúng ta đã vượt Liên bang Nga khoảng 10 năm về kỹ thuật xây dựng nhà chung cu cao tầng. Việt Nam cũng đã vượt xa Venezuela về trình độ thi công xây dựng, mặc dù năm 1980 Thành phố Caracas là Thủ đô có nhiều nhà cao tầng nhất thế giới vào thời điểm đó, đơn giản vì sau đó họ thôi không quan tâm đến xây dựng thêm nhà nữa trong suốt hơn hai chục năm qua…còn chúng ta xây dựng rất nhiều trong quãng thời gian đó để bù lại 30 năm chiến tranh trước đó không được xây dựng….

Tuy nhiên nhìn vào chất lượng của Khoa học công nghệ xây dựng Việt Nam, nét nổi bật là sự phát triển tự phát do đó không đồng đều, chúng ta có những mũi nhọn đột phá đạt trình độ khu vực và quốc tế, như:

–          Thiết kế, gia công, chế tạo lắp dựng Kết cấu thép dàn không gian nhịp lớn,

–          Cốp pha trượt,

–          Xây dựng cầu với công nghệ đúc hẫng, đúc đẩy

–          Cọc khoan nhồi và cọc barrette sức chịu tải lớn,

–          Khung thép nhà cao tầng dạng dàn so le

–          Sàn rỗng chịu lực hai phương không dầm Bubbledeck loại C,

–          Sản xuất cung cấp, ép cọc ly tâm đường kính đến 800mm

–          Sản xuất bê tông chất lượng siêu cao UHPC

–         

Song các công nghệ tiên tiến này đã xuất hiện và thành công nhưng chỉ là những hiện tượng riêng lẻ, rất chậm được lan rộng, không trở thành những đơn vị sản phẩm chiến lược ( xin xem khái niệm SBU trong kinh tế hiện đại ) mang lại năng lực cạnh tranh phát triển mạnh mẽ như nó vốn có cho toàn ngành xây dựng Việt Nam. Hầu hết ngành xây dựng Việt Nam vẫn sử dụng các công nghệ có từ những năm 1970-1980, do đó tiêu tốn nhiều nguyên vật liệu, tốn nhiều nhân công, năng lượng…trong khi điều kiện sử dụng hạn chế, thời gian thi công kéo dài…nói tóm lại là năng suất lao động trong ngành xây dựng rất thấp, đặc biệt là trong khối sử dụng nguồn vốn từ Ngân sách quốc gia.

Nguyên nhân:

Tại sao lại có hiện tượng phát triển không đều diễn ra một cách vô lý như vậy trong thực tiễn ngành xây dựng Việt Nam? Lẽ ra khi có những công nghệ tốt xuất hiện và được thực chứng xong, tự nó sẽ lan tỏa và được đón nhận rộng khắp, công nghệ cũ sẽ nhanh chóng bị thay thế, bị đào thải ngay…điều này rất khó lý giải nếu nhìn từ bề ngoài, song có thể hiểu được nếu nhìn dưới góc độ Động lực phát triển:

Tại các doanh nghiệp tư nhân đạt trình độ cao, hoặc tại doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, nơi các chủ đầu tư công trình thực sự quan tâm đến hiệu quả đầu tư cho công trình xây dựng, thì họ luôn cởi mở tiếp nhận, thậm chí khuyến khích cho các nhân tố mới về Khoa học công nghệ xây dựng được triển khai, chính vì thế các nhà tư vấn, các nhà thầu tiên tiến mới có cơ hội thực nghiệm các ý tưởng công nghệ mới và dần hoàn thiện công nghệ của mình. Đóng góp cho xã hội và tạo nên thành tựu của ngành xây dựng Việt Nam. Vì họ có Động lực rõ ràng để phấn đấu.

Ngược lại, tại các tổ chức sử dụng ngân sách nhà nước, hoặc tại các doanh nghiệp tư nhân nhưng trình độ thấp, không có năng lực đánh giá công nghệ, thường nương theo sự hướng dẫn của các cơ quan chuyên môn bảo thủ thì Khoa học công nghệ mới không thể xâm nhập vào được vì không có động lực sử dụng khoa học công nghệ mới. Có thể khi ứng dụng Khoa học công nghệ mới vào dự án sẽ làm quyền lợi cá nhân của chủ đầu tư bị giảm sút, lại tăng trách nhiệm phải chịu, vậy tốt nhất “ cứ làm như cũ cho lành…”. Chính cách trả thiết kế phí như quy định hiện hành, mà nay là theo Thông tư 957/BXD đã làm cho tình hình này trầm trọng hơn.

 Càng thiết kế tốn nhiều tiền cho một công trình, thì càng nhận nhiều tiền thiết kế, và ít chịu rủi ro,

Trong khi càng thiết kế tiết kiệm cho phí đầu tư, thì người thiết kế phải đầu công sức nghiên cứu và tính toán đi tính toán lại, gạn từng chút trong bố trí sử dụng vật liệu để rồi rất khó khăn khi bảo vệ trước cơ quan thẩm tra, nhưng lại nhận được tiền thiết kế ít hơn, vậy ai còn nhiệt tình nghiên cứu và ứng dụng Khoa học công nghệ mới? để ngành xây dựng Việt Nam khỏi tụt hậu xa thêm với thế giới?

Giải pháp

Để thoát khỏi tình trạng trên, cần điểm trúng huyệt, như khoán 10 đã làm thành công trong nông nghiệp Việt Nam ở thế kỷ trước, đó là thay đổi cách trả phí thiết kế công trình.

Mọi sản phẩm xây dựng đều bắt đầu từ khâu thiết kế. Định kỳ Bộ Xây dựng đã ban hành suất đầu tư cho các loại hình công trình. Nay, thay vì trả thiết kế phí theo phần trăm của tổng mức đầu tư công trình, hãy trả phí thiết kế theo phần trăm tăng dần của Hiệu số giữa suất đầu tư đã công bố và suất đầu tư của sản phẩm thiết kế do tổ chức thiết kế làm ra, nhân với tổng diện tích công trình.

Chỉ cần một Thông tư mới ra đời thay thế 957/ BXD, chúng ta sẽ được chứng kiến động lực cho phát triển ngành xây dựng sẽ vận hành mạnh mẽ thông qua giải phóng sức lao động sáng tạo của các tổ chức tư vấn trong cả nước. Khi đó chẳng cần ai giục giã nhắc nhở, các doanh nghiệp tư vấn xây dựng sẽ thay đổi nhân sự, thay đổi cách quản lý, sôi sục tìm kiếm, nghiên cứu và ứng dụng Khoa học công nghệ mới để tăng khả năng cạnh tranh mà tồn tại.

Các doanh nghiệp sản xuất và thi công xây lắp sẽ chủ động tìm đến với nhau để hợp tác ứng dụng Khoa học công nghệ để đưa ra các sản phẩm cạnh tranh hơn mới mong trúng thầu được,

Các cơ quan quản lý ngành xây dựng các cấp cũng phải từ bỏ tháp ngà cầu an bảo thủ để tự nâng cao trình độ mà đồng hành cùng doanh nghiệp, nếu không sẽ bị xã hội nhận diện như nhân tố kìm hãm sự phát triển của ngành.

Lộ trình mong mỏi:

Hiện Chương Trình Nhà ở xã hội đang được Chính Phủ rất quan tâm, Bộ Xây dựng đóng vai trò chủ chốt của Chương Trình. Đây là một chủ trương rất hợp lòng dân. Và chúng ta đã có những ví dụ thành công rất đáng ghi nhận:

–          Tổng Công ty Becamex IDC đã đưa vào sử dụng hàng ngàn căn hộ 30 m2 cho công nhân các khu công nghiệp của mình với  giá bán chỉ từ 90 triệu/căn hộ, ( hình 1 )

     nha-o-xa-hoi-becamex( hình 1 )

–          Công ty HUD4 từ đầu 2011 đã đưa vào khai thác khu dân cư Phú Sơn với hơn 600 căn hộ nhà ở xã hội với giá bán 6,92 triệu VNĐ/m2, ( hình 2 )

    img0773  ( hình 2 )

–          Công ty Xây dựng Miền Đông Quảng Ninh đang mở bán Nhà ở Thương mại Cẩm Bình Cẩm Phả với giá bán căn hộ 45m2 là 337 triệu VNĐ, ( hình 3 )

     2 ( hình 3 )

Mẫu số chung của các dự án này là:

–          Do những doanh nghiệp năng động, giỏi chuyên môn, có trình độ quản lý tốt làm chủ đầu tư,

–          Biết sử dụng các công nghệ xây dựng tiên tiến vào dự án của mình

Khi có được hai tố chất này, họ sẽ tìm được các nhà tư vấn công nghệ, tư vấn thiết kế và nhà thầu xứng đáng, nhờ vậy sản phẩm xây dựng của họ vừa tốt lại rẻ và thân thiện môi trường.

Như vậy nhu cầu xây dựng Nhà ở xã hội, nhà ở cho công nhân các khu công nghiệp đang là bức xúc của toàn xã hội chính là cơ hội tốt để thay đổi chiến lược Khoa học công nghệ trong ngành xây dựng hướng tới các sản phẩm cạnh tranh và thân thiện môi trường nhờ kết tinh trong đó hàm lượng trí tuệ cao.

Nếu Bộ Xây Dựng thành công trong việc nhân rộng mô hình này ra cả nước, ngành xây dựng Việt Nam sẽ bước qua khủng hoảng và xứng đáng được xã hội trân trọng.

Ước mơ này vừa gần mà vừa rất xa vời.

Trở về trang trước